SƠ LƯỢC VỀ FINGERSTYLE

SƠ LƯỢC VỀ FINGERSTYLE

Fingerstyle guitar là kỹ thuật chơi guitar bằng cách búng lên dây đàn bằng đầu ngón tay, móng tay, hoặc gắn móng (pick) vào đầu ngón tay. Thuật ngữ “fingerstyle” là một cái tên dễ gây nhầm lẫn, vì nó có mặt trong nhiều thể loại và phong cách khác nhau của âm nhạc – nhưng chủ yếu, bởi vì nó bao gồm một kỹ thuật hoàn toàn khác biệt, không chỉ là “phong cách” chơi. Thuật ngữ này thường được sử dụng đồng nghĩa với fingerpicking (búng lên dây đàn), kỹ thuật fingerpicking cũng được sử dụng trong các loại nhạc như folk, blues và country guitar chơi ở Mỹ.

Bản nhạc được soạn cho Fingerstyle thường bao gồm các hợp âm, arpeggios và kết hợp nhiều yếu tố như bồi âm (harmonic), búng, kéo dây, gõ (bằng cách gõ nhịp lên thùng đàn), và nhiều kỹ thuật khác. Thường thì guitarist sẽ chơi giai điệu, hợp âm và bass đồng thời. Một số Guitarist fingerpicking sử dụng thêm kỹ thuật percussive (gõ vào thùng đàn như tiếng trống) cùng với giai điệu, hợp âm và bass. Về hình thức, một cây Guitar fingerstyle đang trình tấu mang lại cảm giác có nhiều cây đàn đang được chơi cùng một lúc. Nếu để đệm hát thì chỉ cần một cây Guitar fingerstyle nhưng có hiệu ứng của cả giàn nhạc.

NGUỒN GỐC
– Phong cách FINGERSTYLE có nguồn gốc ở cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khi một tay Guitar Mĩ la-tinh thử bắt chước nhạc Ragtime Piano bằng đàn guitar, thể loại nhạc vốn phổ biến ở thời kì đó. Guitarist sử dụng ngón tay cái phụ trách dây Bass như tay trái người chơi dương cầm, và các ngón tay khác chức năng như bàn tay phải.

– Blind Blake, Big Bill Broonzy, Memphis Minnie và Mississippi John Hurt là những người thực hiện một số bản thu âm đầu tiên . Các nhạc công Blues thủa đầu như Blind Willie Johnson và Tampa Red thêm vào kĩ thuật Slide. Fingerpicking nhanh chóng được phổ biến trong quốc gia và các nghệ sĩ phương Tây như, Ike Everly (cha của The Everly Brothers), Merle Travis, “Thumb” Carllile, và Sam McGee.

– Mọi người thường sử dụng Guitar Accoustic Modern để chơi fingerstyle, đây là loại Guitar có cần đàn nhỏ, thùng đàn có độ vang cao.

MỘT SỐ THUẬT NGỮ TRONG FINGERSTYLE

– Fingerpicking (hay còn gọi là gảy bằng ngón cái, xen kẽ tiếng bass) được búng bởi những ngón tay, kỹ thuật này thường được dùng để chơi các loại nhạc dân gian, nhạc Jazz hoặc Blues. Trong kỹ thuật này, ngón cái duy trì một nhịp điệu ổn định, thường là xen bass bằng 3 dây 4,5,6, trong khi ngón trỏ, ngón giữa và áp úp gảy giai điệu và chơi những note cao.

– Travis picking: Phong cách này thường được chơi trên Guitar Acoustic dây thép, sử dụng của các nhịp được đặt sẵn của tay phải trong khi chơi, với tay cái bấm các Chord. Ngón cái xen vào note bass, trong khi ngón trỏ và ngón giữa luân phiên chơi những âm cao.

Tiêu biểu của thể loại này là Travis, kỹ thuật của ông ngày một thêm phức tạp và không hề giới hạn. Ông nhắc đến phong cách chơi của mình là “thumb pick” , có lẽ vì sự lựa chọn duy nhất ông ta sử dụng khi chơi là banjo thumb pick.

– American Pritimitive guitar: là một thể loại thuộc Fingerstyle. Nó có nguồn gốc bởi John Fahey. American Pritimitive guitar đặc trưng bởi việc sử dụng âm nhạc dân gian với Alternating-bass Fingerpicking và việc sử dụng Tunings như mở D, mở G, thả D và mở C.

– Ragtime guitar: Như đã đề cập ở trên, có lẽ Fingerpicking ban đầu lấy cảm hứng từ Ragtime piano. Một nghệ sĩ của Ragtime là Blind Blake, một nghệ sĩ ghi âm phổ biến của cuối thập niên 1920 và đầu thập niên 1930.

– New age Fingerstyle: Năm 1976, William Ackerman bắt đầu ghi âm Windham Hill, mà bản gốc là ở trên guitar dây sắt. Tuy nhiên, thay vì Style Folk và Blue của Takoma, bao gồm Guitar Fahey nguyên thủy của Mỹ, những nghệ sĩ New Age loại bỏ các âm Bass đơn điệu và kỹ thuật Flamenco Percussive. Nhạc được sử dụng rộng rãi của nó như là nền âm nhạc tại nhà sách, spa và các doanh nghiệp.

– Folk baroque: Đây là một phong cách riêng biệt nổi lên ở Anh trong đầu những năm 1960, trong đó kết hợp các yếu tố dân gian của Mỹ, Blues, Jazz và Ragtime với âm nhạc truyền thống của Anh. Kỹ thuật này sử dụng mở D và G Tunings. Tuy nhiên, một số kỹ thuật khác đã sử dụng phong cách chơi âm nhạc truyền thống của nước Anh. Các phong cách này được phát triển và đặc biệt đáng chú ý khi làm theo phương thức D-A-D-G-A-D, là một hình thức thả D (drop D). Nó được kết hợp với Travis picking và tập trung vào một giai điệu như một phần nhạc đệm.

– Slack-Key Guitar: là một phong cách Fingerpicked có nguồn gốc ở Hawaii. Phong cách này sử dụng kỹ thuật loosen the tuning key (nới lỏng khóa). Slack key gần như là luôn chơi trong tunings mở hoặc bị thay đổi – chỉnh, phổ biến nhất là G-major, cũng như tunings được thiết kế để có được hiệu ứng đặc biệt.
Phong cách cơ bản của slack-key là thiết lập một mô hình trầm xen kẽ với ngón cái và hòa với dòng giai điệu của các ngón tay trên dây cao hơn.

– “Percussive Picking”: là một thuật ngữ mới nổi cho một phong cách kết hợp lên dây, cũng như gõ trên dây tạo hiệu ứng âm thanh. Flamenco guitar đã sử dụng các kỹ thuật này trong nhiều năm qua, nhưng độ cứng của dây thép đã gây khó khăn trong Fingerstyle cho đến khi người ta bắt đầu sử dụng các pickups trên Acoustic Guitar.

CLASSICAL GUITAR FINGERSTYLE

Là phong cách FINGERSTYLE có thể chơi trên đàn guitar cổ điển. Các tính năng chính của kỹ thuật này là chơi solo đa âm một cách hài hòa, tương tự như đàn piano. Ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa, ngón đeo nhẫn đều dùng để chơi nhạc, kéo, harm… Chords(hợp âm) thường được ngắt, với âm trống được nhấn mạnh. Guitar cổ điển có ưu thế trong màn trình diễn và cho phép một mức độ cao về kiểm soát các yếu tố âm nhạc, kết cấu. Các màn trình diễn rất khác nhau về các phím, các chế độ, nhịp điệu và ảnh hưởng văn hóa. Tunings ít khi được dùng, ngoại trừ Drop D.

– Flamenco guitar fingerstyle:
Kỹ thuật Flamenco liên quan đến kỹ thuật cổ điển, nhưng với sự nhấn mạnh hơn vào nhịp điệu, âm lượng và giai điệu. Những nghệ sĩ Flamenco thường thích các phím như A, E, và do đó dẫn đến việc sử dụng các tuning mở và capo.

-Một số kỹ thuật bao gồm:
. Picado: nhấn mạnh vào tác động lên dây đàn và phát âm.
. Rasgueado: Strumming thường được thực hiện bởi tất cả các ngón tay và sau đó flicking (kéo) ra để tạo 4 âm strums chồng.
. Alzapua: Một kỹ thuật của ngón cái có nguồn gốc trong kỹ thuật Plectrum Oud.
. Tremolo: Đánh một nốt liên tục với tốc độ nhanh để tạo ra âm thanh có độ rung, được chơi với mẫu ngón tay là: p-i-a-m-i.

Moonlight Piano
(tổng hợp)



Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *